Kết quả triển khai của TCTCT

Với thành công bước đầu của Đề án 30, lần đầu tiên Việt Nam thiết lập và công bố Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền và công khai trên mạng internet. Chúng ta đã chuẩn hóa và thống nhất được bộ TTHC cấp huyện, cấp xã theo hướng rút gọn từ 10.000 bộ thủ tục hành chính cấp xã và 700 bộ thủ tục hành chính cấp huyện xuống còn 63 bộ ở mỗi cấp … Theo đó, mỗi tỉnh, thành phố có một bộ TTHC cấp xã và một bộ TTHC cấp huyện để thống nhất thực hiện tại địa phương. Trong năm 2010, Chính phủ đã ban hành 25 Nghị quyết để đơn giản hóa gần 5.000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của 24 bộ, ngành. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Bộ, ngành, địa phương đơn giản hóa các thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu quản lý của Nhà nước. Kết quả này đã được Quốc hội, nhân dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Khi các phương án đơn giản hóa được thực thi, dự kiến cắt giảm thời gian, chi phí và rủi ro cho các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện thủ tục hành chính, với tổng chi phí tiết kiệm được lên tới gần 30.000 tỷ đồng mỗi năm. Bên cạnh đó, Đề án đã nâng cao khả năng tiếp cận thông tin về thủ tục hành chính của mỗi cá nhân, tổ chức; tạo điều kiện cho nhân dân giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính các cấp. Đề án đã thành công trong thực hiện hợp tác công - tư và khẳng định tính đúng đắn trong việc huy động người dân và doanh nghiệp tham gia cải cách thủ tục hành chính. Đây là minh chứng rõ nét về việc phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân dân, gắn bó với dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước và xã hội, tham gia vào quá trình hoạch định chính sách pháp luật của Nhà nước. Đề án đã phát huy được tính tích cực chính trị của nhân dân, là yếu tố cơ bản để phát huy nội lực của đất nước.

Một số cải cách nổi bật của Đề án 30 như sau:

1. Cải cách trong lĩnh vực thuế: (1) các thủ tục về hóa đơn đã được cải cách theo hướng cho phép các doanh nghiệp được tự in hóa đơn và thay vì đăng ký, doanh nghiệp chỉ phải thông báo cho Bộ Tài chính khi phát hành và sử dụng mẫu hóa đơn tự in giúp tiết kiệm gần 400 tỷ đồng/năm; (2) đối với các thủ tục về kê khai thuế, nộp thuế đã thực hiện phân loại đối tượng để giảm tần suất kê khai thuế và nộp thuế cho phù hợp, ước tính tiết kiệm được khoảng 1.068 tỷ đồng/năm cho doanh nghiệp.

2. Trong lĩnh vực hải quan, thực hiện cải cách về thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua việc hiện đại hóa và nhân rộng thủ tục khai hải quan điện tử, tích cực triển khai cơ chế một cửa quốc gia kết nối với các bộ, ngành liên quan để thực hiện thông quan nhanh hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh; thay “đăng ký” thành “thông báo” đối với một số thủ tục như “đăng ký hợp đồng gia công”, “đăng ký, điều chỉnh và kiểm tra định mức”, “đăng ký hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan” … Những cải cách này ước tính sẽ tiết kiệm được khoảng 565 tỷ đồng/năm cho doanh nghiệp.

3. Cải cách trong lĩnh vực xây dựng, bãi bỏ quy định về việc thu phí xây dựng (Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2010/QĐ-TTg ngày 09 tháng 12 năm 2010 về miễn phí xây dựng), bãi bỏ quy định về "thời hạn có hiệu lực khởi công" của giấy phép xây dựng, qua đó bãi bỏ việc gia hạn giấy phép xây dựng, ước tính giảm khoảng 1.400 tỷ đồng/năm cho cá nhân, tổ chức khi thực hiện nhóm thủ tục cấp giấy phép xây dựng.

4. Cải cách trong lĩnh vực tư pháp, đề xuất bãi bỏ yêu cầu công chứng, chứng thực bắt buộc đối với các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản ước tính tiết kiệm khoảng 2.708 tỷ đồng/năm và rút ngắn quá trình hoàn tất các giao dịch về bất động sản.

5. Cải cách trong lĩnh vực lao động-thương binh-xã hội: giảm dần sự can thiệp của cơ quan hành chính đối với các hoạt động của doanh nghiệp như loại bỏ thủ tục đăng ký thang lương, bảng lương của các doanh nghiệp ngoài nhà nước và thủ tục đăng ký thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp, ước tính tiết kiệm khoảng 163 tỷ đồng/năm.

6. Cải cách trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội: thay đổi quy trình giải quyết, kiến nghị không để lại 2% kinh phí chi ốm đau, thai sản tại đơn vị sử dụng lao động, giao cho cơ quan BHXH giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, giảm gánh nặng giải quyết chế độ của đơn vị sử dụng lao động, ước tính tiết kiệm được trên 319 tỷ đồng/năm.

7. Cải cách trong lĩnh vực công an, đối với thủ tục cấp mới đăng ký biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, cùng với việc giảm thời gian thực hiện, đã phân công rõ trách nhiệm cho cơ quan công an trong việc cà số khung số máy thay vì để người dân phải làm như trước đây đã góp phần giảm phiền hà, tiết kiệm cho người dân 496 tỷ đồng/năm. Đối với thủ tục cấp chứng minh nhân dân, đã thiết kế lại nội dung và thể thức mẫu đơn, tờ khai, phân loại và rút ngắn thời gian giải quyết việc cấp mới CMND theo từng địa bàn, đồng thời kiến nghị hợp pháp hóa thẩm quyền cấp CMND cho Công an cấp tỉnh nhằm giảm tải việc ùn tắc như hiện nay, việc làm này ước tính giảm được khoảng 331 tỷ đồng/năm.

Việc bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về phòng cháy chữa cháy cũng tránh được sự trùng lắp trong quá trình làm thủ tục, giảm chi phí đi lại, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, hàng năm tiết kiệm được khoảng 256 tỷ đồng.

8. Cải cách nổi bật trong lĩnh vực văn hóa, thay thế thủ tục cấp phép thực hiện quảng cáo trên bảng biển, pa-nô, băng rôn đối với hàng hóa, dịch vụ thông thường và hàng hoá, dịch vụ trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp bằng thông báo của doanh nghiệp trước khi thực hiện quảng cáo cùng với cam kết tuân thủ quy định của pháp luật về quy hoạch, điều kiện, nội dung, hình thức sản phẩm quảng cáo sẽ tạo điều kiện giảm gánh nặng về thủ tục, giảm chi phí, tạo cơ hội thành công cho sản phẩm của doanh nghiệp trong tiếp cận thị trường song vẫn bảo đảm được mục tiêu quản lý của nhà nước. Thực hiện phương án này ước tính tiết kiệm được cho các doanh nghiệp khoảng 272 tỷ đồng/năm.

9. Cải cách nổi bật trong lĩnh vực đường bộ: giảm sự can thiệp của cơ quan hành chính đối với các hoạt động của DN vận tải trong lĩnh vực khai thác vận tải khách liên tỉnh bằng ô tô; thực hiện quản lý nhà nước thông qua việc quản lý đơn vị vận tải, nhưng không quản lý đến hoạt động của từng xe ô tô, không can thiệp vào tác nghiệp của đơn vị vận tải trong quá trình điều hành các hoạt động kinh doanh của mỗi đơn vị vận tải khách. Việc này ước tính tiết kiệm khoảng 120 tỷ đồng/năm.

Có được kết quả trên đây là do nhiều nguyên nhân, trong đó, yếu tố mang tính quyết định là sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; vai trò điều hành trực tiếp của các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tiếp đến là sự tận tâm, tận lực và tinh thần trách nhiệm của các Tổ công tác thực hiện Đề án 30 ở các bộ, ngành, địa phương; sự hỗ trợ và tư vấn tích cực của Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính; sự chung tay, góp sức của các cơ quan thông tấn, báo chí; hỗ trợ có hiệu quả của nhà tài trợ; sự vào cuộc của từng cán bộ, công chức có liên quan cũng như vai trò tổ chức, điều hành công việc của Tổ công tác chuyên trách của Thủ tướng và Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính./.

Xem toàn bộ nội dung Báo cáo tổng kết hoạt động của Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính

Kết quả triển khai
Kết quả năm 2010
Kết quả năm 2009
Trang tin điện tử Cục Kiểm soát thủ tục hành chính
Chỉ đạo trực tiếp: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
Địa chỉ: Số 1 Hoàng Hoa Thám, quận Ba Đình, Hà Nội
Email: kiemsoat@thutuchanhchinh.vn Điện thoại: 080.49146 Fax: 080.49133
Email Sơ đồ site