Điểm báo ngày 30 tháng 12 năm 2013 (01-01-2014)


1. Quản lý nợ thuế cần xuất phát từ vướng mắc thực tế

(HQ Online) - Để nâng cao hoạt động quản lý nợ thuế trong ngành Hải quan, một số Hải quan địa phương cho rằng, dự thảo Quy trình theo dõi quản lý nợ thuế cần xuất phát từ những vướng mắc trong thực tiễn hoạt động quản lý nợ để đưa ra quy trình quản lý chung một cách phù hợp...

 

Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan CKQT Lào Cai.

Ảnh: THU TRANG.

 

Cần quy định rõ về thu thập thông tin

Về đối tượng DN cần xác minh thông tin, theo Cục Hải quan TP.HCM, chỉ cần xác minh thông tin các đối tượng DN nợ thuế quá hạn trong 90 ngày và nợ quá hạn 90 ngày. Bởi đối với các khoản nợ thuế trong hạn, thuế được bảo lãnh thì không cần phải xác minh thêm vì không có tính khả thi (số lượng lớn) và chưa đến hạn thanh toán. Đối với các nhóm tiền thuế nợ chờ xử lý, chờ xóa, xét miễn, giảm, gia hạn... không cần phải xác minh thêm vì các nhóm nợ này là mục tiêu sau cùng của việc phân tích nợ (hồ sơ DN đã có hoặc đã có quyết định giải thể, hoặc đã xác định được DN bỏ trốn, mất tích... không có khả năng thu hồi).

Đối với việc thu thập thông tin của DN, theo Cục Hải quan TP.HCM, để tránh lãng phí nhân lực cho việc thu thập thông tin DN đối với trường hợp nhiều chi cục, nhiều cục cùng xác minh một đối tượng DN (do DN cùng lúc nợ thuế tại nhiều chi cục khác nhau, nhiều cục khác nhau) thì cần quy định rõ cấp nào. Chi cục nào thu thập thông tin của DN và quy định rõ cơ chế chia sẻ thông tin.

Bên cạnh đó, trong việc xác minh tài khoản của người nộp thuế tại ngân hàng, thực tế hiện cả nước có nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng hoạt động. Cơ quan Hải quan sẽ không biết DN mở tài khoản ở ngân hàng nào để xác minh số tài khoản. Do vậy, việc xác minh tài khoản cần phải thành lập tổ chức đầu mối hỗ trợ phối hợp với hiệp hội ngân hàng...

Cùng góp ý về nội dung này, theo Cục Hải quan Hà Nội, thông tin về người nộp thuế có nợ thuế được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và là căn cứ để công chức Hải quan được phân công quản lý nợ thuế đề xuất lãnh đạo chi cục phân loại nợ thuế. Cho nên, trong quy trình quản lý nợ cần xác định cụ thể phải có bao nhiêu thông tin, kết quả xác minh từ bao nhiêu nguồn hoặc thông tin từ cơ quan chức năng nào được sử dụng làm căn cứ để phân loại nợ thuế.

Bổ sung phương pháp khai thác thông tin 

Cục Hải quan Hà Nội băn khoăn, để phân loại nợ của người nộp thuế không còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa điểm đăng ký kinh doanh, thì kết quả xác minh của chính quyền sở tại (công an cấp xã) có đủ hay không, hay phải xác nhận của cơ quan Thuế? Thông tin về tình trạng ngừng hoạt động của người nộp thuế trên website của Tổng cục Thuế có đủ điều kiện để phân loại nợ hay không? Việc xác định rõ căn cứ, điều kiện để phân loại nợ thuế không chỉ giúp cho quá trình thực thi của cơ quan Hải quan được thuận lợi mà còn tạo ra tính thống nhất trong việc thực hiện.

Vì vậy, theo Hải quan Hà Nội, cần bổ sung phương pháp khai thác thông tin  trên website của cơ quan chức năng. Với cách thức, công chức hải quan in màn hình kết quả tra cứu trên trang web, ký tên, đóng dấu công chức và lưu vào hồ sơ theo dõi nợ thuế.

Với quy định làm việc tại trụ sở của người nộp thuế, cả Cục Hải quan Hà Nội và Quảng Trị đều cho rằng, quy trình cần hướng dẫn rõ phương án xử lý trong trường hợp cơ quan Hải quan đến trụ sở người nộp thuế/ tổ chức bảo lãnh nhưng bị từ chối làm việc (người đại diện có thẩm quyền không tham gia làm việc hoặc lấy lý do vắng mặt) hoặc không ký vào biên bản làm việc...

Thực hiện bù trừ nợ thuế

Về đề nghị cơ quan Thuế thực hiện bù trừ số tiền thuế GTGT được cơ quan Thuế giải quyết hoàn thuế của những DN nợ thuế bỏ trốn..., theo Cục Hải quan Hà Nội, tại quy trình quản lý nợ cần quy định rõ như sau: Trường hợp người nộp thuế còn khoản tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa (đã có quyết định hoàn thuế) nhưng không đến làm thủ tục hoàn thuế kiêm bù trừ thì chi cục gửi thông báo yêu cầu đối tượng nợ thuế thực hiện nộp thuế đối với khoản nợ, hoặc thực hiện bù trừ tiền thuế nộp thừa cho khoản tiền nợ thuế.

Trường hợp đối tượng nộp thuế có công văn đề nghị hoàn trả khoản thu NSNN trong đó ghi rõ việc bù trừ cho khoản phải nộp thì chi cục lập lệnh hoàn trả tiền bù trừ thu NSNN gửi Kho bạc Nhà nước nơi trực tiếp hoàn trả để thực hiện bù trừ.

Trường hợp hết thời hạn quy định theo thông báo mà đối tượng nộp thuế chưa thực hiện nộp thuế (hoặc chưa lập giấy đề nghị hoàn trả kiêm bù trừ) thì chi cục vẫn thực hiện lập lệnh hoàn trả kiêm bù trừ thu NSNN gửi Kho bạc Nhà nước nơi trực tiếp hoàn trả để thực hiện bù trừ, đồng thời gửi thông báo cho người nộp thuế biết. 

Quy trình theo dõi, quản lý nợ thuế được Tổng cục Hải quan xây dựng để hải quan các địa phương thực hiện thống nhất việc theo dõi và quản lý nợ thuế đối với hàng hóa XNK, đồng thời đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với hàng hóa XNK của đối tượng nộp thuế. Đồng thời cũng là để phù hợp với những sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế.

Quy trình đưa ra các tiêu chí phân loại nợ (nhóm nợ khó thu, nhóm nợ chờ xử lý, nhóm nợ có khả năng thu), các bước thực hiện quản lý nợ…; và quy định nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị từ cấp Tổng cục đến cấp chi cục trong theo dõi, quản lý nợ thuế.

 

T.Trang

Theo baohaiquan.vn

 

 

2. Phân bổ ngân sách cho chương trình xây dựng nông thôn mới

(HQ Online)- Đối với tất cả các xã, ngân sách Nhà nước (NSNN) hỗ trợ 100% cho các hoạt động: Công tác quy hoạch; xây dựng trụ sở xã và đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã.

Các xã thuộc huyện nghèo được NSNN hỗ trợ 100% cho 9 nội dung trong xây dựng nông thôn mới.

Ảnh Internet.

 

Đó là một trong những quy định tại Thông tư liên tịch số  51/2013/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC do Liên bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính ban hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.

Theo đó, các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16-4-2009 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20-2-2013 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

Kinh phí quy hoạch do NSNN cấp: UBND cấp tỉnh trên cơ sở mức hỗ trợ từ Ngân sách Trung ương, có trách nhiệm chủ động chỉ đạo lập kế hoạch kinh phí quy hoạch; quy định mức kinh phí quy hoạch cho cấp xã phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh và bố trí kinh phí bổ sung (nếu có) để thực hiện; chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các sở, ngành có liên quan, Kho bạc nhà nước tỉnh hướng dẫn thanh quyết toán kinh phí lập quy hoạch theo tình hình thực tế của địa phương trên cơ sở các văn bản hướng dẫn (và sửa đổi, bổ sung, thay thế nếu có) của các bộ, ngành.

Căn cứ nguồn vốn phân bổ chương trình mục tiêu từ ngân sách Trung ương và cân đối nguồn vốn bố trí từ  ngân sách địa phương cho Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính xây dựng phương án phân bổ, lồng ghép các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới để trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Việc phân bổ các nguồn vốn được thực hiện cho cả giai đoạn và cho từng năm, sau khi có thông báo từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.

Ngoài ra, Thông tư mới sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Điều 16 Thông tư 26 như sau: Đối với các hoạt động được NSNN hỗ trợ nếu kinh phí hỗ trợ dưới 50% vốn thì Ban quản lý xã thống nhất với nhà tài trợ (nếu có) quyết định cơ chế quản lý; Trường hợp Ban quản lý xã và nhà tài trợ (nếu có) thống nhất thực hiện cơ chế riêng không theo cơ chế quản lý của Thông tư này thì chỉ quyết toán phần ngân sách nhà nước đã hỗ trợ. Đối với đối tượng sử dụng vốn ODA thì thực hiện theo Hiệp định ký kết với đối tác cấp ODA.

Về nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn từ NSNN quy định tại Khoản 2, Điều 17 Thông tư 26 được sửa đổi như sau: Nguồn vốn sự nghiệp, ưu tiên hỗ trợ thực hiện công tác quy hoạch; xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã; tuyên truyền; hoạt động của Ban Chỉ đạo các cấp; đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, thôn, hợp tác xã; phát triển sản xuất và dịch vụ nông thôn.

Đối với các xã thuộc các huyện nghèo thuộc Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, NSNN hỗ trợ tối đa 100% cho các hoạt động thuộc 9 nội dung theo quy định.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17-1-2014.

T.Th

Theo baohaiquan.vn

 

3. Thủ tục hành chính mới về cho vay bằng ngoại tệ

(HNMO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có Quyết định số 2984 về việc công bố thủ tục hành chính mới thay thế thủ tục hành chính trong lĩnh vực hoạt động tiền tệ thuộc phạm vi chức năng quản lý của NHNN.

Ảnh minh họa

 

Theo đó, thủ tục chấp thuận cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay bằng ngoại tệ đối với từng trường hợp cụ thể có trình tự thực hiện là:

Bước 1: Khi có nhu cầu cho vay bằng ngoại tệ, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có văn bản đề nghị chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ theo quy định gửi về NHNN (Vụ Chính sách tiền tệ).

Bước 2: Trong thời hạn tối đa 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, NHNN gửi văn bản thông báo chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay bằng ngoại tệ.

Về văn bản đề nghị chấp thuận cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gồm có các nội dung: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã thẩm định và đảm bảo dự án, phương án sản xuất, kinh doanh của khách hàng có khả thi, hiệu quả, khách hàng vay đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật về hoạt động cho vay, có khả năng thu hồi nợ đúng hạn (gốc và lãi); trong đó, báo cáo cụ thể tình hình tài chính, hoạt động sản xuất, kinh doanh, nguồn trả nợ vay của khách hàng, nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ của khách hàng để thực hiện dự án, phương án sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ.

TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài báo cáo cụ thể về nguồn vốn bằng ngoại tệ để thực hiện cho vay, đồng thời cam kết và đảm bảo cân đối được nguồn vốn bằng ngoại tệ phù hợp với thời hạn và mức vốn cho vay; việc cho vay đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động cho vay, quản lý ngoại hối, giới hạn cấp tín dụng, các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng của TCTD và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cam kết chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định, quyết định cho vay bằng ngoại tệ đối với các khách hàng và các nội dung, thông tin cung cấp tại văn bản đề nghị.

T.Hương

Theo hanoimoi.com.vn

 

4. Hướng dẫn tái cơ cấu DNNN không đủ điều kiện CPH

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 194/2013/TT-BTC hướng dẫn tái cơ cấu doanh nghiệp 100% vốn nhà nước không đủ điều kiện cổ phần hóa theo quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ.

 

CôngThương - Đối tượng áp dụng của Thông tư là Công ty Mua bán nợ Việt Nam và các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và xác định lại giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và Nghị định số 189/2013/NĐ-CP mà giá trị thực tế của doanh nghiệp thấp hơn các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp.

Thông tư quy định cụ thể nguyên tắc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua xử lý nợ để chuyển thành công ty cổ phần.

Theo đó, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện tái cơ cấu để chuyển thành công ty cổ phần là các doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định của pháp luật.

Phương án tái cơ cấu được thực hiện trên nguyên tắc đồng thuận giữa cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án tái cơ cấu, doanh nghiệp tái cơ cấu với Công ty Mua bán nợ hoặc các chủ nợ tham gia tái cơ cấu (lập biên bản thỏa thuận giữa các bên). Công ty Mua bán nợ được quyền chủ động đàm phán mua nợ với các chủ nợ và đề xuất phương án tái cơ cấu doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật.

Công ty Mua bán nợ chỉ quyết định mua nợ để tái cơ cấu doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sau khi đã thỏa thuận, thống nhất với cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án tái cơ cấu/cổ phần hóa và có kết quả đàm phán mua nợ với các chủ nợ của doanh nghiệp tái cơ cấu. Việc mua nợ để tái cơ cấu doanh nghiệp phải đảm bảo có tính khả thi, có khả năng thu hồi vốn hiệu quả và đủ nguồn chênh lệch giữa giá vốn mua nợ với giá trị sổ sách khoản nợ để xử lý tài chính, tái cơ cấu doanh nghiệp theo quy định.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 10/02/2014.

Theo baocongthuong.com.vn

 

 

5. Thuế GTGT: Nộp thuế khấu trừ và “ngưỡng doanh thu”

(DĐDN) - Tổng cục Thuế cho biết, từ ngày 1/1/2014, cơ sở kinh doanh ngoài việc phải đáp ứng đủ các điều kiện về chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ còn phải có doanh thu chịu thuế GTGT hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (HHDV) từ một tỉ đồng trở lên.

DN, HTX phải có đơn đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế

 

Từ trước tới nay, phương pháp khấu trừ thuế GTGT được áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; Các đối tượng khác thuộc diện phải nộp thuế theo phương pháp trực tiếp như: Cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; hoạt động kinh doanh mua bán, vàng, bạc, đá quý.

Tuy nhiên, kể từ ngày 1/1/2014 cơ sở kinh doanh ngoài việc phải đáp ứng đủ các điều kiện về chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ còn phải có doanh thu chịu thuế GTGT hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (HHDV) từ một tỷ đồng trở lên. Doanh thu năm được xác định căn cứ vào tổng cộng chỉ tiêu “Tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT” trên Tờ khai thuế GTGT tháng của kỳ khai thuế từ tháng 12 năm trước đến hết tháng 11 năm hiện tại trước năm xác định phương pháp tính thuế GTGT hoặc trên Tờ khai thuế GTGT quý của các quý từ quý 4 năm trước đến hết quý 3 năm hiện tại trước năm xác định phương pháp tính thuế GTGT. Phương pháp tính thuế được thực hiện ổn định trong chu kỳ 2 năm.

Ví dụ: Cty A thành lập từ năm 2011 và hiện nay vẫn đang hoạt động. Để xác định phương pháp tính thuế GTGT cho năm 2014, Cty A xác định mức doanh thu như sau:

Cộng chỉ tiêu “tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT” trên Tờ khai thuế GTGT hàng tháng trong 12 tháng (từ tháng 12/2012 đến hết tháng 11/2013).

Trường hợp tổng doanh thu đạt trên 1 tỷ đồng, Cty A được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế trong 2 năm (năm 2014 và năm 2015).

Trường hợp tổng doanh thu chưa đến 1 tỷ đồng, Cty A chuyển sang áp dụng phương pháp tính trực tiếp trong 2 năm (năm 2014 và năm 2015), trừ trường hợp Cty A đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

Trường hợp DN mới thành lập trong năm 2013, hoạt động sản xuất kinh doanh chưa đủ 12 tháng thì xác định doanh thu ước tính của năm như sau: Tổng cộng chỉ tiêu “Tổng doanh thu của HHDV bán ra chịu thuế GTGT” trên Tờ khai thuế GTGT của các tháng hoạt động sản xuất kinh doanh chia số tháng hoạt động sản xuất kinh doanh và nhân với (x) 12 tháng. Trường hợp theo cách xác định như trên, doanh thu ước tính từ 1 tỷ đồng trở lên thì doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế. Trường hợp doanh thu ước tính theo cách xác định trên chưa đến 1 tỷ đồng thì doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính trực tiếp, trừ trường hợp doanh nghiệp tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

Đối với DN tạm nghỉ kinh doanh trong cả năm thì xác định theo doanh thu của năm trước năm tạm nghỉ kinh doanh.

Phương pháp tính thuế GTGT mới nhằm khuyến khích DN tự nguyện thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kế toán, hóa đơn.

Đối với DN tạm nghỉ kinh doanh một thời gian trong năm thì xác định doanh thu theo số tháng, quý.

Trường hợp năm trước năm tạm nghỉ kinh doanh DN kinh doanh không đủ 12 tháng thì xác định doanh thu theo số tháng, quý.

Những DN, HTX, DN mới thành lập từ dự án đầu tư, Tổ chức khác có hoạt động kinh doanh hạch toán được thuế GTGT đầu vào, đầu ra nhưng không đạt “Ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng” nêu trên. Nếu muốn áp dụng theo phương pháp khấu trừ thuế thì cơ sở kinh doanh phải đăng ký tự nguyện và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hoá đơn, chứng từ theo quy định.

DN, HTX phải có đơn đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo thời gian qui định đề nghị áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

Quy định về phương pháp tính thuế GTGT mới nêu trên nhằm khuyến khích các cơ sở kinh doanh tự nguyện thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ, hạch toán đầy đủ thuế GTGT đầu vào, đầu ra. Mặt khác còn giúp cơ quan thuế địa phương quản lý tốt đối tượng nộp thuế, tránh thất thu NSNN.

Hoàng Hà

Theo dddn.com.vn

 

6. Thay đổi nhiều chính sách ưu tiên trong tuyển sinh năm 2014

(GDVN) - Hàng loạt các chính sách ưu tiên trong kỳ tuyển sinh 2014 sẽ thay đổi, theo đó những thay đổi này sẽ mang tới sự công bằng cho thí sinh các vùng miền.

 

Chính sách ưu tiên sẽ bao gồm 7 nhóm ưu tiên. Theo đó, nhóm ưu tiên 01 gồm các đối tượng công dân Việt Nam có cha hoặc mẹ là người dân tộc thiểu số ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đối tượng 02: Công nhân trực tiếp đã sản xuất làm việc liên tục 5 năm trở lên trong đó ít nhất 2 năm là chiến sỹ thi đua được cấp tỉnh công nhận và tặng bằng khen. Với đối tượng 03, thương binh, bệnh binh, người được hưởng chính sách như thương binh. Quân nhân, công an nhân dân đã xuất ngũ được công nhận hoàn thành nghĩa vụ phụ vụ tại ngũ theo luật định (nếu ở khu vực 1 chỉ cần 12 tháng).

 

Nhiều chính sách ưu tiên trong tuyển sinh 2014 có thay đổi.

 

Đối tượng 04: Con liệt sĩ; Con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động 81% trở lên; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị dị dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt, học tập do hậu quả của chất độc hóa học.

Con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng, con của Anh hùng lực lượng vũ trang, con của Anh hùng lao động, trong thời kì kháng chiến; Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 hoặc con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945. 

Đối tượng 05 gồm: Thanh niên xung phong tập trung được cử đi học; Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học có thời gian phục vụ dưới 18 tháng không ở khu vực 1; Chỉ huy trưởng, chỉ huy phó ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn; Thôn đội trưởng, Trung đội trưởng Dân quân tự vệ nòng cốt, Dân quân tự vệ nòng cốt, Dân quân tự vệ đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ nòng cốt từ 12 tháng trở lên, dự thi vào ngành Quân sự cơ sở. 

Đối tượng 06: Công dân Việt Nam là người dân tộc thiểu số ở ngoài khu vực đã quy định thuộc nhóm ưu tiên 1; Người khuyết tật nặng; Con thương binh, con bệnh binh, con của người được hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động dưới 81% và con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dưới 81%; Con của người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Con của người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Con của người có công giúp đỡ cách mạng. 

Đối tượng 07: Người lao động ưu tú thuộc tất cả các thành phần kinh tế được từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,Bộ trở lên công nhận danh hiệu thợ giỏi, nghệ nhân được cấp bằng huy hiệu lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam hoặc Trung ương đoàn TNCS HCM. 

Giáo viên đã giảng dạy đủ 3 năm trở lên thi vào các ngành sư phạm. Y tá, dược tá, kỹ thuật viên, y sỹ, dược sỹ trung cấp đã có thời gian công tác đủ 3 năm trở lên thi vào các ngành Y- Dược…

Để khuyến khích phong trào nghiên cứu khoa học ở trong trường THPT, Bộ GD&ĐT cũng chính thức bổ sung thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong Hội thi khoa học kĩ thuật do Bộ GD&ĐT tổ chức đã tốt nghiệp trung học phổ thông được tuyển thẳng vào đại học theo đúng ngành hoặc ngành gần của môn mà thí sinh đã đoạt giải. Những thí sinh đạt giải khuyến khích trong Hội thi khoa học kĩ thuật do Bộ GD&ĐT tổ chức đã tốt nghiệp trung học phổ thông được tuyển thẳng vào cao đẳng theo đúng ngành hoặc ngành gần của môn mà thí sinh đã đoạt giải. 

Theo giaoduc.net.vn

 

7. Hạ tầng đẹp, nhà đất tăng giá phải nộp phí?

TP - Lãnh đạo Tổng hội Xây dựng Việt Nam vừa đề xuất: Thu Thuế tài sản và Phí phát triển để có vốn đầu tư hạ tầng. Tính khả thi của đề xuất này tới đâu, đặc biệt trong bối cảnh người dân và doanh nghiệp phải thắt lưng buộc bụng hiện nay?

Nhà xây dựng sau khi có đường mới sẽ phải nộp phí? (Ảnh đường Lê Văn Lương kéo dài).

Ảnh: L.H.V.

 

Thêm thuế, phí để đầu tư hạ tầng

Trong một cuộc hội thảo của ngành xây dựng gần đây, TS. Phạm Sỹ Liêm-Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam bất ngờ nêu đề xuất trên. Theo đó, có thể đầu năm tới, tổng hội sẽ ra văn bản chính thức gửi các cơ quan chức năng đề xuất thu Thuế tài sản và Phí phát triển.

Giải thích về đề xuất Thuế tài sản, TS. Liêm cho rằng, hiện nước ta chỉ có Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, nhưng chỉ tính với đất, còn thuế mới sẽ tính cả trên giá trị đất và nhà (tài sản).

Trước đây Bộ Tài chính từng đưa ra Luật Thuế nhà đất, nhưng sau đó Quốc hội không thông qua do người dân còn nhiều khó khăn, không đánh thuế nhà chỉ đánh thuế đất. “Thuế tài sản thu với cả đất và nhà, các nước đều thu. Nước ta có thể tham khảo”, ông Liêm nói. Mức thu có thể chưa cao, nhưng trước mắt cần phải thu và có lộ trình tăng dần.

Theo ông Liêm, thuế sẽ chỉ đánh với những nhà đất ở đô thị, ven các tuyến đường, vì có đường, cây xanh, chiếu sáng… được nhà nước đầu tư. Thêm nữa, nhà ở những vị trí có đường giao thông thuận lợi thường có giá trị cao hơn các khu vực khác. Giá trị đó do tuyến đường mang lại, cần thu thuế cao hơn những nơi khác.

“Tất cả những thứ công cộng đều không thu tiền, giờ phải thu mới có nguồn đầu tư, duy trì hoạt động để phục vụ lại người dân”, ông Liêm nói. Ông dẫn chứng, trong báo cáo nguồn thu ngân sách TP Hà Nội năm 2012, dự kiến thu từ bán quyền sử dụng đất chiếm hơn 20% tổng nguồn thu.

Tuy nhiên, sau đó không thực hiện được vì bất động sản đóng băng, bán không ai mua. Chính lý do này làm các địa phương năm qua thu ngân sách giảm mạnh. Ông cho rằng: “Không thể để nguồn thu ngân sách phụ thuộc vào một thứ kém ổn định và không bền vững như bán đất, cần có nguồn thu ổn định và thu thuế nhà đất là một giải pháp”.

Nguồn thu này sẽ được đưa vào ngân sách và dùng để đầu tư phát triển. Tác giả đề xuất cho rằng, nước ta còn nghèo càng cần phải thu mới có tiền để đầu tư phát triển. “Ở ta lâu nay quen bao cấp, người dân không muốn đóng góp. Không có quốc gia nào tự nhiên có tiền, tất cả đều do người dân đóng góp dưới nhiều dạng thuế, phí…”, ông Liêm khẳng định.

Với Phí phát triển, tác giả cho rằng, chỉ thu với những nhà phát triển lên sau khi có một công trình đầu tư từ ngân sách đi qua (như có đường mới). “Khi có đường mới, giá trị lô đất, căn nhà sẽ tăng lên. Nếu anh bán hoặc xây dựng công trình, phần giá chênh lệch so với trước đây (hoặc giá trị căn nhà xây mới) sẽ phải nộp phí. Nếu anh không bán, không xây dựng gì sẽ không phải nộp phí”, ông Liêm giải thích.

Ví dụ của TS Liêm dẫn ra cụ thể: Nhờ có đường, lô đất được bán cao hơn 5 triệu đồng so với giá cũ (khi chưa có đường), phần 5 triệu đó sẽ phải nộp phí với mức nhất định. Theo ông Liêm, hồi cuối những năm 80-90, UBND TP Hà Nội từng thu Phí hạ tầng, với mức 10% giá trị nhà xây mới, nhưng sau 1 - 2 năm phải bỏ không rõ lý do.

Phải hỏi ý kiến dân, chuyên gia

“Lại thêm thuế và phí à”, bà Nguyễn Thị Vân (53 tuổi, ở đường Khương Đình mới, phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội) thốt lên khi vừa nghe nói tới vấn đề trên. “Tôi đâu bắt họ làm đường qua nhà tôi, sao lại bắt tôi phải nộp phí”, bà Vân nói. Anh Phạm Văn Tuấn (36 tuổi, ở khu tập thể Vĩnh Hồ, Đống Đa, Hà Nội) tỏ ra thông cảm hơn: “Nếu thu cũng được, nhưng mức thu vừa phải theo thu nhập người dân. Quan trọng phải công bằng”.

 

 “Phải tính toán cách thức, mức thuế nước ta như thế nào, khi tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn. Đặc biệt, cần công khai, minh bạch và đưa ra hỏi ý kiến người dân”. 

Chuyên gia Kinh tế

Lê Đăng Doanh

 

GS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, khi được hỏi, cho biết, nếu thu được như đề xuất sẽ rất tốt. “Tôi đã nhiều lần kiến nghị thu thuế cả nhà và đất, cùng một sắc thuế với giá trị tài sản tăng thêm do các công trình đầu tư từ ngân sách mang lại cho tài sản đó”, ông Võ nói. Hiện, thế giới và các nước trong khối Asean đều thu thuế nhà và đất, mức từ 1-1,5% theo giá thị trường. Việt Nam mới thu với đất, ở mức 0,03% theo giá nhà nước quy định. Tuy nhiên, ông Võ cũng thừa nhận thực tế, thu nhập của người Việt hiện còn thấp, chưa có phần chi cho nhà ở, nếu thu cần có lộ trình gắn với cải cách tiền lương.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, đề xuất trên phù hợp với thông lệ quốc tế, các nước đều làm. “Tuy nhiên phải tính toán cách thức, mức thuế nước ta như thế nào, khi tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn. Đặc biệt, cần công khai, minh bạch và đưa ra hỏi ý kiến người dân”, ông Doanh nói. Ông dẫn chứng trường hợp của Thụy Sỹ, trước khi một sắc thuế được đưa ra, chính phủ sẽ lấy ý kiến người dân sẵn sàng nộp thuế ở mức bao nhiêu. Với Phí phát triển, theo chuyên gia này, cần thêm thời gian để nghiên cứu, lấy ý kiến chuyên gia. “Vấn đề là mức bao nhiêu cho hợp lý, còn các nước đều thu cả”, ông Doanh nói.

Theo một lãnh đạo Bộ Xây dựng, đây là những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, cần có nghiên cứu cụ thể. “Người đưa ra đề xuất cũng mới nhận định ban đầu, để có chính sách cần xem xét từ cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học”, vị này nói. Theo vị này, mong muốn thì rất nhiều, nhưng làm được không lại là vấn đề khác.

LÊ HỮU VIỆT

Theo tienphong.vn

 

 

7. Ban hành quy định cụ thể việc niêm yết giá bằng ngoại tệ

(TBTCO) - Ngày 26/12/2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 32/2013/TT/NHNN hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

NHNN đã có quy định cụ thể về các trường hợp được sử dụng ngoại hối tại Việt Nam.

Ảnh: D.A

 

Trong đó, Thông tư quy định rõ các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

Cụ thể là: Cơ quan hải quan, công an, bộ đội biên phòng và các cơ quan Nhà nước khác tại các cửa khẩu của Việt Nam và kho ngoại quan được niêm yết bằng ngoại tệ và thu bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ người không cư trú đối với các loại thuế, phí thị thực xuất nhập cảnh, phí cung ứng dịch vụ và các loại phí, lệ phí khác theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối (gọi tắt là TCTD được phép) được giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận bằng ngoại hối trong phạm vi kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được NHNN Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối được giao dịch và niêm yết bằng ngoại tệ trong phạm vi cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được NHNN Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.

Người cư trú là tổ chức có tư cách pháp nhân được điều chuyển vốn nội bộ bằng ngoại tệ chuyển khoản giữa tài khoản của tổ chức đó với tài khoản của đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân và ngược lại.

Người cư trú được góp vốn bằng ngoại tệ chuyển khoản để thực hiện dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Người cư trú nhận uỷ thác nhập khẩu được ghi giá trong hợp đồng uỷ thác nhập khẩu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng nhập khẩu từ bên uỷ thác nhập khẩu; Người cư trú nhận uỷ thác xuất khẩu được ghi giá trong hợp đồng uỷ thác xuất khẩu bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng xuất khẩu cho bên uỷ thác xuất khẩu.

Người cư trú là nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài thực hiện theo quy định sau: (i) Đối với chi phí ngoài nước liên quan đến việc thực hiện gói thầu thông qua đấu thầu quốc tế theo quy định tại Luật Đấu thầu: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài; (ii) Đối với việc thực hiện gói thầu theo quy định của pháp luật về dầu khí: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài.

Người cư trú là doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện theo quy định: (i) Được báo giá, định giá, ghi giá dịch vụ bảo hiểm trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ bên mua bảo hiểm đối với hàng hoá, dịch vụ phải mua tái bảo hiểm ở nước ngoài; (ii) Trường hợp phát sinh tổn thất đối với phần tái bảo hiểm ra nước ngoài, người cư trú là tổ chức mua bảo hiểm được nhận số tiền bồi thường bằng ngoại tệ chuyển khoản từ công ty tái bảo hiểm nước ngoài thông qua doanh nghiệp bảo hiểm để thanh toán các chi phí khắc phục tổn thất ở nước ngoài.

Người cư trú là tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế được niêm yết giá hàng hoá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hoá. Ngoại tệ sử dụng trong giao dịch tại cửa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bán hàng miễn thuế.

Người cư trú là tổ chức cung ứng dịch vụ ở khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế, tổ chức kinh doanh kho ngoại quan được niêm yết, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ.

Người cư trú là tổ chức làm đại lý cho hãng vận tải nước ngoài trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết giữa hai bên thực hiện theo quy định: (i) Được thay mặt cho hãng vận tải nước ngoài báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ đối với cước phí vận tải hàng hoá quốc tế. Việc thanh toán phải thực hiện bằng đồng Việt Nam; (ii) Được chi hộ bằng ngoại tệ chuyển khoản để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại cảng biển quốc tế, khu cách ly tại sân bay quốc tế; (iii) Được chi hộ bằng ngoại tệ tiền mặt để trả lương, thưởng, phụ cấp cho người không cư trú do hãng tàu biển nước ngoài uỷ quyền.

Người cư trú là doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo quy định: (i) Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi mua hàng hoá từ thị trường nội địa để sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu hoặc để xuất khẩu, trừ hàng hoá thuộc diện cấm xuất khẩu. Doanh nghiệp trong nước được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi bán hàng hoá cho doanh nghiệp chế xuất; (ii) Được báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán, nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản với doanh nghiệp chế xuất khác.

Người cư trú là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển hàng không, khách sạn, du lịch được niêm yết, quảng cáo giá hàng hoá, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ tương đương trên trang tin điện tử, ấn phẩm chuyên ngành (không bao gồm thực đơn và bảng giá dịch vụ) chỉ sử dụng tiếng nước ngoài.

Người cư trú, người không cư trú là tổ chức được thoả thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức đó.

Người không cư trú là cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự được niêm yết bằng ngoại tệ và thu phí thị thực xuất nhập cảnh, các loại phí, lệ phí khác bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt.

Người không cư trú thực hiện theo quy định: (i) Được chuyển khoản bằng ngoại tệ cho người không cư trú khác; (ii) Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán tiền xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ bằng ngoại tệ chuyển khoản cho người cư trú. Người cư trú được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người không cư trú.

Các trường hợp khác được phép sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam được Thống đốc NHNN Việt Nam xem xét, chấp thuận căn cứ vào tình hình thực tế và tính chất cần thiết của từng trường hợp.

Thông tư cũng quy định rõ, trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các trường hợp được sử dụng ngoại hối quy định như trên, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hoá, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thoả thuận) của người cư trú, người không cư trú phải được thực hiện bằng VND.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/2/2014./.

Tài Tâm

Theo thoibaotaichinhvietnam.vn

 

 

8. 4313- chỉ thị kiểm soát gắt thực phẩm Tết

Trước và sau Tết Nguyên đán luôn là thời điểm người dân có nhu cầu tiêu dùng thực phẩm cao. Để bảo đảm an toàn thực phẩm trong thời điểm này, Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn vệ sinh thực phẩm ban hành kế hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ.

 

Nguồn: petrotimes.vn
 

Nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) cho người tiêu dùng trong dịp Tết, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đã ký ban hành Chỉ thị số 4313, chú trọng thanh tra, kiểm soát cơ sở sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản trong dịp Tết và có nguy cơ cao. Đặc biệt chú trọng thanh tra, kiểm soát nguồn thực phẩm tại các chợ đầu mối, điểm đấu giá, điểm bán buôn thực phẩm nông, lâm, thủy sản. Đối với các tỉnh biên giới và khu vực lân cận với các tỉnh biên giới, kiểm soát, xử lý các mặt hàng thực phẩm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không bảo đảm ATTP. Đối với các tỉnh biên giới và khu vực lân cận với các tỉnh biên giới, yêu cầu đặc biệt chú trọng kiểm tra, kiểm soát, xử lý các mặt hàng thực phẩm nhập lậu, không rõ nguồn ngốc, gia cầm nhập khẩu trái phép, không bảo đảm an toàn thực phẩm. Đặc biệt xử lý nghiêm theo quy định các trường hợp vi phạm.

Theo Cục An toàn vệ sinh thực phẩm Bộ Y tế, trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ, Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm thành lập 9 đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm, tiến hành thanh tra tại các tỉnh, thành phố trọng điểm, đặc biệt tập trung ở 2 thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh và các tỉnh có cửa khẩu biên giới. Tại các địa phương này, Đoàn kiểm tra sẽ phối hợp với Ban chỉ đạo ở tỉnh, thành phố để kiểm tra việc triển khai kế hoạch, đi thị sát tại các địa điểm quan trọng. Bên cạnh công tác thanh tra, kiểm tra, Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm cũng đẩy mạnh tuyên truyền các kiến thức về lựa chọn và bảo quản thực phẩm để bảo đảm an toàn, vệ sinh; về quyền lợi và trách nhiệm của người tiêu dùng. Và cung cấp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thông tin về những văn bản hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm quy định về công bố tiêu chuẩn, từ vấn đề chọn nguyên liệu đầu vào, điều kiện vệ sinh cơ sở, khám sức khỏe, sử dụng phụ gia thực phẩm vấn đề quảng cáo thực phẩm…

Theo Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm, việc thanh tra, kiểm soát nguồn thực phẩm sẽ không chỉ áp dụng với việc sản xuất, kinh doanh mà cả việc nhập lậu thực phẩm. Thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các sơ sở sản xuất, kinh doanh các mặt hàng tiêu thụ lớn trong dịp Tết (Rượu bia, bánh kẹo, thịt gia súc gia cầm và sản phẩm thịt, các loại mứt (lưu ý cơ sở, sản xuất sản phẩm thủ công). Trong đó phân công cụ thể nội dung công việc theo các mặt hàng được phân công quản lý của từng bộ, ngành như Bộ Y tế, Công thương, Nông nghiệp và các lực lượng liên ngành.

Triển khai Kế hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ, nhiều địa phương cũng đã siết chặt kiểm soát việc vận chuyển, bày bán các loại hàng nông, lâm, thủy sản. Trong đó, do là một trong những địa phương trọng điểm về thanh tra, kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm Tết Nguyên đán, nên Phòng Cảnh sát Giao thông thành phố Hà Nội đã chỉ đạo lập chốt tại các cửa ngõ ra vào thành phố. Lực lượng chức năng cũng tăng cường kiểm tra, kiểm soát từ 6 giờ đến 22 giờ hàng ngày để phát hiện ngăn chặn, xử lý những phương tiện chuyên chở thực phẩm không bảo đảm vệ sinh, cũng như các trường hợp gian lận thương mại về thực phẩm.

Phạm Hạnh

Theo daibieunhandan.vn

 

 

9. Không giới hạn hình thức thi tuyển

Ngày 28-12, tại Hà Nội, Bộ GD&ĐT đã tổ chức hội nghị tuyển sinh năm 2014.

 

Hội nghị tập trung thảo luận về quy định tự chủ tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Phát biểu sau khi ghi nhận ý kiến từ đại diện lãnh đạo các trường ĐH, CĐ, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận cho biết với quy định mới này, Bộ không giới hạn hình thức thi tuyển đối với các trường. Các trường được phép đề xuất các hình thức thi tuyển, có thể là thi kết hợp với xét tuyển, phỏng vấn…

Trường thi riêng có thể tổ chức hai lần/năm

Đánh giá những thành tựu cũng như những tồn tại trong những năm qua, Bộ GD&ĐT tiếp tục khẳng định quyết tâm đổi mới công tác tuyển sinh ĐH, CĐ.

Theo đó, với quy định về tự chủ tuyển sinh ở các trường, Bộ cho biết do xuất phát điểm và quá trình phát triển của các trường không đồng đều và sự đa dạng của giáo dục ĐH, hơn nữa tuyển sinh là vấn đề nhạy cảm, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội nên việc thay đổi phải được kiểm soát. “Các trường phải thực hiện chuyển đổi một cách có trật tự, phải có đề án cụ thể. Việc chuyển đổi phải trải qua quá trình chuẩn bị, có thời gian quá độ, đảm bảo cho các trường chuẩn bị chu đáo, học sinh sẵn sàng” - Bộ trưởng Phạm Vũ Luận nhấn mạnh.

Cụ thể, trong giai đoạn quá độ (2014-2016), Bộ GD&ĐT sẽ hỗ trợ các trường chưa đủ năng lực tự chủ tuyển sinh hoặc chưa chuẩn bị kịp phương án tự chủ tuyển sinh. Sau năm 2016, chủ trương tất cả các trường sẽ phải tự chủ tuyển sinh. Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận cũng nêu rõ quan điểm, việc chuyển đổi phải đảm bảo tinh thần “Chu đáo, chắc chắn, cẩn thận nhưng không trì trệ”, trong quá trình quá độ này, các trường được phép lên phương án về hình thức thi tuyển cho trường mình có thể thi kết hợp với xét tuyển, phỏng vấn…

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (bên trái) trao đổi với các đại biểu bên lề hội nghị.

Ảnh: V.THỊNH

 

Như vậy, trong thời gian quá độ sẽ cùng lúc tồn tại hai cách thức tuyển sinh, một số trường có phương án tuyển sinh riêng (được Bộ GD&ĐT chấp thuận) có thể tổ chức kỳ thi riêng, những trường khác chưa đủ điều kiện hoặc chưa được thông qua phương án sẽ vẫn thi theo hình thức ba chung như hiện nay. Bộ GD&ĐT cũng đặt ra yêu cầu không để phát sinh hiện tượng các tổ chức, cá nhân là cán bộ, giáo viên của nhà trường trục lợi trong tổ chức luyện thi, tạo điền kiện thuận lợi tối đa cho thí sinh, không để phát sinh tiêu cực, đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch…

Với quy định mới này, các thí sinh có thể có thêm cơ hội tham dự được nhiều đợt thi hơn. Các trường có phương án tuyển sinh riêng có thể tổ chức tuyển sinh hai lần/năm.

Các trường vẫn lo ngại

Phát biểu trong phần thảo luận, nhiều đại biểu là lãnh đạo các trường ĐH, CĐ đã thể hiện sự đồng tình cao đối với đề án tự chủ tuyển sinh của Bộ. Tuy nhiên, lãnh đạo nhiều trường vẫn bày tỏ quan điểm trong thời kỳ quá độ vẫn sẽ thực hiện tuyển sinh theo hình thức ba chung theo các mốc thời gian khác nhau. Phó giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM cho biết năm 2014 trường vẫn thi ba chung, tạo nền tảng để thay đổi dần từ năm 2015. Năm 2016, trường sẽ thực sự thay đổi hoàn toàn phương án tuyển sinh.

Trong khi đó, phó hiệu trưởng Trường ĐH Duy Tân cũng khẳng định năm tới trường vẫn thi ba chung. Tuy nhiên, để tiến tới năm 2017 thi riêng, đại biểu này đề xuất Bộ nên có một ngân hàng đề chung để các trường sử dụng, tránh tình trạng chênh lệch. Phó Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội Nguyễn Kim Sơn cũng khẳng định Bộ nên duy trì ba chung nhưng cần nới mở, mềm dẻo và tiên tiến hơn. Theo ông Sơn, năm 2014 ĐH Quốc gia vẫn thi chung và dự kiến đến năm 2015 trường sẽ tuyển sinh riêng.

Ngày 10-3, công bố các trường  tuyển sinh riêng

Theo kế hoạch, sau ngày 28-12, Bộ GD&ĐT sẽ công bố quy định về nội dung của đề án tuyển sinh riêng lên website của Bộ tại địa chỉ: http://www.moet.gov.vn và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bất kỳ phương án thi riêng nào Bộ cũng cân nhắc kỹ, nếu không phù hợp sẽ không cho áp dụng.

Tiếp đó, đến ngày 10-2-2014, các trường ĐH, CĐ phải nộp phương án tuyển sinh về Bộ GD&ĐT. Những phương án này sẽ được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông để lấy ý kiến đóng góp trong toàn xã hội. Đến ngày 10-3, Bộ GD&ĐT sẽ công bố danh sách các trường ĐH, CĐ tuyển sinh riêng. Những thông tin này sẽ được Bộ GD&ĐT đưa vào nội dung quyển Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2014.

Giáo dục phải hướng đến chuẩn quốc tế

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam mang đến hội nghị chiếc ổ cắm điện và chia sẻ câu chuyện khiến ông trăn trở. Phó Thủ tướng hồi tưởng lại trước đây đi nước ngoài phải sử dụng chiếc ổ cắm này. Ngày đó, những vật dụng này rất quý và phải mua ở nước ngoài nhưng hiện nay Việt Nam đã có thể tự sản xuất. Ông cũng lấy ví dụ từ chiếc USB nhỏ bé nhưng rất tiện dụng, có thể mang đi làm việc khắp nơi. Qua câu chuyện này, Phó Thủ tướng chia sẻ giáo dục phải hướng đến chuẩn quốc tế, vì lợi ích lớn lao của đất nước. Vì vậy, theo ông điều khó nhất là cần nhận thức được giáo dục nước ta đang ở đâu, điểm mạnh, yếu là gì để có phương hướng đổi mới phù hợp.

Từ chiếc ổ cắm điện, Phó Thủ tướng chia sẻ những trăn trở của mình về giáo dục. Ảnh: zing.vn

 

Theo Phó Thủ tướng, với điều kiện hiện nay, không cách nào khác, giáo dục và đào tạo cần quyết liệt, đi trước một bước. Trong đó, giáo dục ĐH mang lại nhiều kỳ vọng nhất. Đối tượng của giáo dục sát với đầu ra của xã hội nhất, làm sao để các trường ĐH, CĐ đào tạo cử nhân, thạc sĩ ra trường có việc làm ngay, được doanh nghiệp trong và ngoài nước chấp nhận.

Cùng với thi cử phải đột phá đổi mới quản lý giáo dục và trước hết ngay từ Bộ GD&ĐT. Nguyên tắc xuyên suốt là không để học sinh chịu thiệt thòi bởi các cháu xứng đáng có quyền lựa chọn cơ sở giáo dục tốt.


Viết Thịnh

Theo phapluattp.vn

 

 

10. Sửa cơ chế với khu kinh tế cửa khẩu: Ưu đãi về thuế XNK

(HQ Online)- Nhiều cơ chế ưu đãi tại các khu kinh tế cửa khẩu (KTCK) được áp dụng trong những năm qua đã góp phần phát triển thương mại, du lịch và giao lưu kinh tế . Tuy nhiên, chính sách tài chính  cũng như thực tế hoạt động và phát triển của các khu KTCK đã có nhiều thay đổi. Do đó, việc điều chỉnh lại cơ chế cho đồng bộ và phù hợp với thực tế là cần thiết.

Tháo gỡ những vướng mắc hiện tại, đảm bảo cơ sở pháp lý và tính ổn định của chính sách.

Ảnh: Q.Hùng.

 

Nhiều lợi ích rõ nét

Hiện nay, cả nước có 29 khu KTCK thuộc 21 tỉnh nằm trên tuyến biên giới trong đó có 11 khu giáp Trung Quốc, 10 khu giáp Campuchia và 9 khu giáp Lào bao gồm cả khu KTCK Bờ Y vừa giáp Lào vừa giáp Campuchia. Sự ra đời của các khu KTCK tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển KT-XH của các tỉnh biên giới đất liền, góp phần hình thành các đô thị biên giới với nhiều hoạt động phát triển thương mại, du lịch, giao lưu kinh tế.

Ngày 2-3-2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách tài chính đối với khu KTCK và ngày 10-7-2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 93/2009/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số 33. Bộ Tài chính đánh giá, với 2 Quyết định này, nhìn chung, hệ thống cơ chế, chính sách tạo điều kiện phát triển các khu KTCK cơ bản đã khá đầy đủ.

Các cơ chế được xây dựng và hoàn thiện theo hướng cởi mở, thông thoáng và phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc thực hiện cơ chế, chính sách tài chính đối với khu KTCK đã góp phần đẩy nhanh việc hình thành cơ sở hạ tầng khu KTCK; thu hút các DN đầu tư sản xuất kinh doanh; gia tăng sản xuất, kim ngạch XK; đóng góp vào nguồn thu ngân sách, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng khu KTCK.

Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa qua, chính sách tài chính, trong đó có các chính sách về thuế, về vốn huy động, về ngân sách Nhà nước cũng như thực tế hoạt động và phát triển của các khu KTCK có nhiều thay đổi. Theo Bộ Tài chính, điều đó dẫn tới cơ chế, chính sách quy định tại Quyết định số 33, Quyết định số 93 và Quyết định riêng của một số khu KTCK không còn phù hợp, gây vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Các vướng mắc chủ yếu là về quy định nguồn vốn hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng từ ngân sách Trung ương; vốn huy động, vốn tín dụng Nhà nước cho các dự án; chính sách ưu đãi về thuế Giá trị gia tăng; ưu đãi về thuế XK, thuế NK; quy định về ưu đãi tiền thuê đất, tiền sử dụng đất; quy định về phí, lệ phí và chính sách khai thác, sử dụng công trình hạ tầng; quy định ưu đãi về thuế đối với khách tham quan du lịch khu phi thuế quan...

Đảm bảo ưu đãi thuế XNK

Để thống nhất với những chính sách mới, đồng thời khắc phục bất cập, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg thay thế Quyết định số 33 và Quyết định số 93 nêu trên. Từ đó, nhiều chính sách về thuế, phí, lệ phí sẽ được sửa đổi, bổ sung, đặc biệt các ưu đãi về thuế XNK.

Trước đây, khu KTCK thuộc danh mục địa bàn có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn và được hưởng ưu đãi về thuế NK, song, từ khi Nghị định số 87/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế XK, thuế NK có hiệu lực (1-10-2010), khu KTCK không thuộc danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư nên không được ưu đãi về thuế NK nữa.

Do các khu KTCK được hình thành ở khu vực biên giới đất liền về cơ bản thuộc địa bàn có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn nên Quyết định mới cho phép các dự án đầu tư vào khu KTCK được hưởng ưu đãi về thuế NK như trước khi có Nghị định số 87.

Cụ thể, miễn thuế NK đối với hàng hoá NK để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư tại khu KTCK (trừ khu phi thuế quan) như: Thiết bị, máy móc; phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ trong nước chưa sản xuất được; phương tiện vận chuyển đưa đón công nhân gồm xe ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên và phương tiện thủy; linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng; nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được dùng để chế tạo thiết bị, máy móc nằm trong dây chuyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện; vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được.

Việc miễn thuế NK này được áp dụng cho cả trường hợp mở rộng quy mô dự án, thay thế công nghệ, đổi mới công nghệ.

Hàng hóa sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp tại khu phi thuế quan không sử dụng nguyên liệu, linh kiện NK từ nước ngoài khi NK vào nội địa Việt Nam cũng được miễn thuế NK. Trường hợp các mặt hàng trên có sử dụng nguyên liệu, linh kiện NK từ nước ngoài, khi NK vào nội địa Việt Nam chỉ phải nộp thuế NK tính trên phần nguyên liệu, linh kiện NK cấu thành trong hàng hóa đó.

Riêng hàng hoá sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp của dự án đầu tư có tổng vốn đầu tư trên 20 tỷ đồng tại khu KTCK quốc tế Cầu Treo (Hà Tĩnh) và Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo (Quảng Trị) có sử dụng nguyên liệu, linh kiện NK từ nước ngoài, khi NK vào nội địa Việt Nam được miễn thuế NK 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất.

Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại khu phi thuế quan NK vào nội địa đã có đăng ký với cơ quan Hải quan về danh mục hàng hóa NK sử dụng làm nguyên liệu, linh kiện sản xuất hàng NK vào nội địa và định mức nguyên liệu, linh kiện dùng để sản xuất hàng NK trước khi nhập vào nội địa Việt Nam, việc xác định thuế NK phải nộp căn cứ vào số lượng, mức thuế suất của mặt hàng NK vào nội địa Việt Nam và trị giá tính thuế tính trên phần nguyên liệu, linh kiện NK từ nước ngoài cấu thành trong hàng hóa NK vào nội địa Việt Nam. Trường hợp không xác định được trị giá tính thuế, cơ quan Hải quan ấn định thuế đối với phần nguyên liệu, linh kiện cấu thành trong mặt hàng NK vào nội địa Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và trị giá hải quan.

Về thuế XK, có một thực tế là các công trình trong khu phi thuế quan nằm cố định trên lãnh thổ Việt Nam nhưng vật liệu phục vụ xây dựng mới hoặc sửa chữa lại là hàng hoá từ nội địa đưa vào khu phi thuế quan, theo quy định hiện hành phải chịu thuế XK. Để tháo gỡ vướng mắc này và khuyến khích xây dựng các công trình trong khu phi thuế quan, Thủ tướng Chính phủ đồng ý miễn thuế XK đối với hàng hóa là vật liệu xây dựng từ nội địa Việt Nam hoặc từ các khu chức năng khác trong khu KTCK đưa vào khu phi thuế quan thuộc khu KTCK để xây dựng, sửa chữa và bảo dưỡng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội chung trong khu phi thuế quan. Việc miễn thuế XK cũng được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ có xuất xứ từ nội địa Việt Nam XK vào và chỉ sử dụng trong Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo (Quảng Trị) và Khu KTCK quốc tế Cầu Treo (Hà Tĩnh).

Bên cạnh những sửa đổi, bổ sung này, nhiều quy định về thuế TNDN, thuế GTGT, các khoản phí, lệ phí... trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng hứa hẹn sẽ tháo gỡ được những vướng mắc hiện tại, đảm bảo cơ sở pháp lý và tính ổn định của chính sách.

Hồng Vân

Theo baohaiquan.vn

 

 

11. Từ 23/1/2014, áp dụng chống bán phá giá tạm thời với thép không gỉ

 (Chinhphu.vn) - Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 9990/QĐ-BCT áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội.

 

Theo đó, áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời đối với một số sản phẩm thép không gỉ cán nguội, ở dạng cuộn hoặc tấm với độ dày nhỏ hơn hoặc bằng 3,5mm, được ủ hoặc được xử lý nhiệt bằng phương pháp khác và ngâm hoặc được cạo gỉ để loại bỏ tạp chất dư thừa trên bề mặt của thép không gỉ.

Những sản phẩm này có thể được tiếp tục xử lý (được cắt hoặc được xẻ) với điều kiện quá trình đó không làm thay đổi các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm. Các sản phẩm này thuộc các mã HS: 7219.32.00; 7219.33.00; 7219.34.00; 7219.35.00; 7219.90.00; 7220.20.10; 7220.20.90; 7220.90.10; 7220.90.90 được nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Indonesia, Malaysia và Đài Loan (Trung Quốc), cụ thể như sau:

 

Nước/vùng lãnh thổ

 

Tên nhà sản xuất/xuất khẩu

Mức thuế chống bán phá giá

Trung Quốc

Lianzhong Stainless Steel Corporation

6,99%

Fujian Southeast Stainless Steel Co., Ltd.

6,45%

Các nhà sản xuất khác

6,68%

Indonesia

PT Jindal Stainless Indonesia

12,03%

Các nhà sản xuất khác

12,03%

Malaysia

Bahru Stainless Sdn. Bhd.

14,38%

Các nhà sản xuất khác

14,38%

Đài Loan

Yieh United Steel Corporation

13,23%

Yuan Long Stainless Steel Corp.

30,73%

Các nhà sản xuất khác

13,23%

 

Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời được thực hiện theo pháp luật về chống bán phá giá Việt Nam và hướng dẫn thu nộp thuế chống bán phá giá tạm thời của Bộ Tài chính căn cứ theo quy định pháp luật về quản lý thuế.

Thuế chống bán phá giá tạm thời sẽ được áp dụng trong vòng 120 ngày.

 

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 23/1/2014.

Hằng Hà

Theo baodientu.chinhphu.vn

 

 

12. Áp dụng ngay phân loại nợ mới: Quan ngại nợ xấu tăng mạnh

Nhiều ngân hàng mong lùi thời gian thực hiện thông tư 02.

Ngoài việc có thể “phơi bày” con số nợ xấu thực của hệ thống ngân hàng, cách thức phân loại nợ mới theo Thông tư 02 dự kiến được áp dụng vào ngày 1.6.2014 tới đây còn có thể gây ra tâm lý e ngại và tạo thêm nút thắt cho vay trong bối cảnh tín dụng vốn đã tăng trưởng không như kỳ vọng.

Xem lại thời gian

Đúng ra, Thông 02 của NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD phải được áp dụng ngay từ ngày 1.6.2013. Quyết định lùi thời gian thực hiện quy định này tới 1 năm được lãnh đạo NHNN lý giải là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tiếp cận vốn vay, hỗ trợ thúc đẩy tín dụng cho nền kinh tế, tạo mặt bằng lãi suất cho vay và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.

Đồng thời cũng giúp cho các ngân hàng có thêm thời gian chủ động xây dựng lộ trình thực hiện và chuẩn bị các điều kiện áp dụng đầy đủ, qua đó góp phần triển khai đồng bộ các giải pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu...

Nay thì thời hạn áp dụng văn bản trên đang đến gần, và một lần nữa, không ít các ngân hàng lại bày tỏ lo ngại về thời hạn áp dụng cũng như những tác động chắc chắn là không nhỏ đến kết quả phân loại nợ, tỉ lệ nợ xấu cũng như mức trích lập dự phòng rủi ro của mỗi nhà băng...

Các ý kiến càng trở nên dồn dập hơn khi ông Đặng Văn Thảo - Phó Chánh thanh tra (NHNN) - mới đây khẳng định sẽ không lùi thêm thời hạn áp dụng thông tư này. Dẫn bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, sức khỏe của ngân hàng cũng như của các doanh nghiệp còn yếu, TGĐ Ngân hàng Quân đội - ông Lê Công - cho rằng việc áp dụng thông tư trên sẽ gây thêm khó khăn cho các ngân hàng và doanh nghiệp. Chủ tịch HĐQT Vietinbank - ông Phạm Huy Hùng - thậm chí còn đề nghị NHNN tiếp tục hoãn việc thực hiện đến năm 2015. Bởi theo ông này, với thực lực của các ngân hàng hiện nay, có “bày” hết ra cũng không xử lý được.

Khả năng điều chỉnh

Điểm chung, phần đông các ngân hàng cũng như giới chuyên gia tài chính đều có cùng quan điểm khi nhìn nhận, việc áp dụng quy định phân loại nợ trên sẽ khiến tỉ lệ nợ xấu và mức trích lập dự phòng tại các ngân hàng sẽ gia tăng mạnh. Ngoài sức ảnh hưởng đến câu chuyện lợi nhuận của mỗi nhà bằng, nợ xấu tăng cao một lần nữa lại tạo thêm tâm lý e ngại và thắt chặt cho vay từ phía các nhà băng.

Cũng cần nhắc lại rằng, với hàng loạt các biện pháp kích thích, nới lỏng và đẩy mạnh xử lý cục máu đông nợ xấu, tín dụng trong cả năm 2013 nhiều khả năng chỉ ở mức 10% cho thấy khả năng và sức hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn còn khá yếu.

Chưa kể, nhờ quyết định 780 của NHNN, có hơn 300.000 tỉ đồng tổng số dư các khoản nợ được giữ nguyên nhóm nợ và tổng số dư các khoản nợ không bị chuyển sang nợ xấu do được giữ nguyên nhóm nợ là gần 180.000 tỉ đồng. Không có quyết định này, tỉ lệ nợ xấu của toàn hệ thống có thể lên tới 8% tổng dư nợ. Áp dụng quy định phân loại nợ theo Thông tư 02 đồng nghĩa với việc sẽ không có chuyện giữ nguyên nhóm nợ như trên.

Chính vì vậy, việc tạm dừng, hoãn hay kéo dài thêm thời hạn áp dụng các quy định trong Thông tư 02 trên đây cần một sự đánh giá thận trọng và tỉ mỉ từ phía NHNN. Một tổ chức đầu tư đưa nhìn nhận, khi thông tư này đi vào thực tiễn, nhiều khả năng tỉ lệ nợ xấu và tỉ lệ tài sản đã đầu tư không sinh lời ở các TCTD sẽ tăng lên đáng kể.

Song ngược lại, “điều này cũng đồng nghĩa với việc các số liệu trở nên thực chất hơn và các TCTD nhìn nhận được đúng bản chất các vấn đề rủi ro của chính mình, từ đó đưa ra được hướng xử lý và giải quyết triệt để và đúng trọng tâm”. Sự an toàn, lành mạnh và minh bạch trong điều hành và quản lý cũng như trong tình hình hoạt động của các TCTD theo đó cũng sẽ được cải thiện đáng kể so với khoảng thời gian trước đó.

Do đó, dựa trên các đánh giá tác động cũng như để tránh tạo ra cú sốc với hệ  thống ngân hàng và nền kinh tế, một tổ chức đầu tư cho rằng rất có thể NHNN sẽ có những điều chỉnh cần thiết đối với Thông tư 02 để phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tế cũng như tình trạng của các TCTD.

Động thái NHNN mới đây yêu cầu các TCTD tự dự kiến việc áp dụng thông tư kể trên sẽ có tác động như thế nào, đặc biệt là về tỉ lệ nợ xấu và các tài sản đã đầu tư không sinh lời gợi mở rất nhiều khả năng điều chỉnh.

Theo laodong.com.vn

 

 

13. Bộ Tài chính kiến nghị đẩy nhanh xã hội hóa dịch vụ công

(TBTCO) - Để triển khai Kết luận của Bộ Chính trị trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ sự nghiệp công một cách có hiệu quả và tích cực hơn, Bộ Tài chính kiến nghị các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương đẩy nhanh công tác xã hội hóa dịch vụ công.

 

Cụ thể, Bộ Tài chính đề nghị các Bộ, ngành chủ động nghiên cứu, đề xuất các nội dung đổi mới về cơ chế hoạt động, cơ chế tổ chức, cơ chế quản lý và cơ chế tài chính đối với lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc trách nhiệm của Bộ, ngành và đối với các đơn vị sự nghiệp tại địa phương; trong đó tập trung xây dựng và ban hành hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật của ngành, lĩnh vực và tiêu chí kiểm tra, giám sát chất lượng cung ứng dịch vụ.

Trên cơ sở đó xác định lộ trình tính chi phí, giá dịch vụ thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với các hoạt động dịch vụ theo định hướng đổi mới nêu tại Kết luận số 63-KL/TW và Nghị quyết số 40/NQ-CP của Chính phủ.

Riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế cần đẩy nhanh tiến độ triển khai các nội dung thí điểm về mở rộng quyền tự chủ tài chính và cơ chế đặt hàng cung ứng dịch vụ đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách. Trên cơ sở đó tổng kết, đánh giá để nhân rộng.

Đối với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Tài chính đề nghị tiếp tục quan tâm đến công tác xã hội hóa các dịch vụ sự nghiệp công; rà soát điều chỉnh quy hoạch về đất đai, các cơ sở xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp trên địa bàn nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực của xã hội để chăm lo phát triển dịch vụ sự nghiệp công.

Trên cơ sở các đề án đổi mới của ngành, lĩnh vực; chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn triển khai thực hiện thí điểm về mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động và tài chính và cơ chế đặt hàng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

Tiếp tục kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công trên địa bàn để điều chỉnh mức giá, phí dịch vụ sự nghiệp công thuộc thẩm quyền của địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển của các đơn vị sự nghiệp công lập và phù hợp với khả năng chi trả của người dân trên địa bàn./.

Nhật Minh

Theo thoibaotaichinhvietnam.vn

 

 

14. Cấp thiết sửa đổi Luật Doanh nghiệp (Kỳ I)

Kỳ 1: Đừng nặng tính hình thức

LTS: Sau hơn 7 năm triển khai, Luật Doanh nghiệp 2005 đã ghi nhận nhiều bất cập khi các quy định trong luật còn chưa rõ ràng, chồng chéo và không đáp ứng kịp thời với sự biến đổi của nền kinh tế, sự chuyển đổi  của các cơ chế quản lý nhà nước và nhu cầu phát triển nhanh, mạnh của cộng đồng DN. DĐDN trân trọng giới thiệu loạt bài viết góp ý cho định hướng sửa đổi Luật Doanh nghiệp của luật gia Vũ Xuân Tiền.

 

Luật DN là đạo Luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đầu tư vốn thành lập DN và quyền tự do kinh doanh của công dân và hình thành một khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng giữa các DN thuộc mọi thành phần kinh tế.

 

Việc sửa đổi Luật Doanh nghiệpnăm 2005 đã chính thức khởi động. Đó là sự cần thiết khách quan và cấp bách. Bởi, Luật Doanh nghiệp 2005 đã bộc lộ những hạn chế, nhiều quy định không còn phù hợp, đồng thời có những vấn đề mới phát sinh cần được chế định bằng Luật. Ban soạn thảo Luật DN sửa đổi đưa ra định hướng cho việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp gồm: Tiếp tục kế thừa và phát huy tinh thần của Luật Doanh nghiệp 2005; tiếp tục mục tiêu Luật Doanh nghiệp 2005 đã đề ra nhưng chưa đạt được. Bãi bỏ, sửa đổi các nội dung quy định hiện hành không còn phù hợp hoặc không còn hợp lý so với sự phát triển kinh tế xã hội, thông lệ quốc tế tốt và bổ sung quy định điều chỉnh một số vấn đề thực tiễn mới xuất hiện.

Cần một sự đột phá

Định hướng nêu trên không sai nhưng chưa đủ. Bởi lẽ, với định hướng đã nêu, rất có thể việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp sẽ chỉ dừng ở việc sửa đổi về kết cấu chương, điều và câu chữ (mặc dù những điều đó cũng là cần thiết). Là một đạo luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đầu tư vốn thành lập DN và quyền tự do kinh doanh của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp cần có sự đột phá để trên cơ sở đó, huy động được ngày càng nhiều vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, khuyến khích mọi công dân làm giàu cho mình và cho đất nước.

Để tạo được sự đột phá, việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2005 cần  tập trung vào những mục tiêu sau đây:

Thứ nhất, hình thành một khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng giữa các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhất. Bởi lẽ, dù Luật Doanh nghiệp năm 2005 được gọi là Luật Doanh nghiệp thống nhất và từ 1/7/2010, Luật Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hết hiệu lực thi hành, các DNNN hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Song, trên thực tế, các DNNN vẫn được hưởng những ưu đãi biệt lệ trong sử dụng vốn, đất đai và không chịu áp lực cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, cần quy định trong luật sửa đổi hàng loạt vấn đề quan trọng như: quyền tiếp cận nguồn lực (vốn, đất đai, thị trường, công nghệ...); trách nhiệm bảo toàn vốn chủ sở hữu; chấp nhận áp lực cạnh tranh của thị trường; xoá bỏ tình trạng biến độc quyền nhà nước thành độc quyền kinh doanh... Đó là những vấn đề không đơn giản nhưng không thể bỏ qua.

Thứ hai, cần trao thêm quyền thoả thuận của những người góp vốn thành lập DN trong Điều lệ Cty. Phải khẳng định rằng, cùng nhau góp vốn để thành lập DN là tham gia một cuộc chơi với nguyên tắc "lời cùng ăn, lỗ cùng chịu". Vì vậy, những đồng sở hữu phải được quyền thoả thuận về những vấn đề trong quản lý, điều hành DN. Điều đó có nghĩa là Luật chỉ quy định khung về những vấn đề đặc biệt quan trọng, chẳng hạn, tỷ lệ biểu quyết để thông qua nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên; sự phân cấp quyền quản lý giữa HĐQT/ Hội đồng thành viên với bộ máy điều hành; về  sự hình thành và hoạt động của tập đoàn kinh tế... Những quy định cụ thể trong quản trị DN sẽ để những người góp vốn thoả thuận và quy định trong điều lệ.

Thứ ba, tôn trọng những cam kết quốc tế mà Việt Nam đã chấp nhận thông qua các hiệp định song phương, đa phương, đặc biệt là Hiệp định gia nhập WTO, để thực hiện nghiêm túc  nguyên tắc "thương mại không phân biệt đối xử".

Thứ tư, triệt để thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ngăn chặn tình trạng tái xuất của giấy phép con, đồng thời có cơ chế kiểm soát sau đăng ký DN nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp để thực hiện những hành vi trái pháp luật của một bộ phận chủ DN. Với yêu cầu trên, Luật Doanh nghiệp không chỉ quy định rõ ràng, minh bạch trong việc thành lập DN mà còn cần quy định rõ ràng về cơ chế hậu kiểm, về việc ngừng kinh doanh, giải thể DN. Đó là những vấn đề chưa được quy định hoặc quy định còn rất mờ nhạt trong Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Cải cách trong đăng ký DN

Đăng ký DN là khâu mở đầu để một DN ra đời và tham gia vào hoạt động kinh doanh. Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã có những cải tiến rất cơ bản so với Luật Cty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 về trình tự, thủ tục thành lập DN. Nhờ đó, số lượng các DN dân doanh được thành lập ngày càng nhiều. Trong những năm vừa qua, thủ tục đăng ký DN cũng liên tục được cải tiến, từ việc đăng ký kinh doanh độc lập với đăng ký thuế đã chuyển thành đăng ký DN và hợp nhất mã số DN với mã số thuế. Tuy nhiên, triệt để hơn nữa, có những vấn đề sau đây cần được quy định trong Luật Doanh nghiệp (sửa đổi).

Một là, cần bãi bỏ quy định "giấy phép đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh". Đây là vấn đề bất hợp lý, thể hiện sự phân biệt đối xử, trái với thoả thuận khi gia nhập WTO và đã được nêu rất nhiều trong các hội nghị, hội thảo trước đây song vẫn không được giải quyết.

Việc sửa đổi Luật DN cần có sự đột phá để trên cơ sở đó, huy động được ngày càng nhiều vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh,  khuyến khích mọi công dân làm giàu cho mình và cho đất nước.

Nghiêm trọng hơn, việc xin giấy phép đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài hiện nay đang bị điều chỉnh bởi Công văn số 1752/BKH-PC ngày 18 tháng 03 năm 2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trái với quy định tại Nghị định số 139/2007/NĐ-CP và Nghị định số 102/2010/ NĐ-CP thay thế Nghị định 139. Cụ thể là, về việc thành lập DN của tổ chức, cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, tiết b khoản 3 điều 9 Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ “Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp” quy định: “Tổ chức, cá nhân người nước ngoài lần đầu tiên đầu tư thành lập DN tại Việt Nam được thực hiện như sau: b) Trường hợp DN dự định thành lập có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập DN thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước”. Nghị định số 139/2007/NĐ-CP đã được thay bằng Nghị định số 102/2010/ NĐ-CP. Quy định đã trích dẫn trên vẫn được giữ nguyên tại khoản 3 Điều 1 1 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP. Tuy nhiên, hiện nay việc thành lập DN và góp vốn vào các DN Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài đang được điều chỉnh bởi công văn số 1752/BKH-PC ngày 18/3/2009. Công văn trên quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” và “trường hợp nhà đầu tư góp vốn để đầu tư thì phải làm thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư”. Theo đó, khi góp vốn với nhà đầu tư Việt Nam thành lập DN liên doanh, trong đó bên nước ngoài chiếm không quá 49% vốn điều lệ thì nhà đầu tư phải có dự án đầu tư và phải làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Như vậy, Công văn 1752/BKH-PC đã phủ nhận quy định trong hai Nghị định của Chính phủ!

Hai là, cần quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn nữa nhằm ngăn chặn tình trạng tuỳ tiện đặt ra những điều kiện như một "giấy phép con" của các cơ quan quản lý đang phát sinh ngày càng nhiều. Chẳng hạn, Luật DN không quy định về điều kiện của nơi được chọn  làm trụ sở của DN. Song, hiện nay, các DN không được sử dụng chung cư làm văn phòng và quy định đó chỉ được thực hiện theo một công văn của Bộ Xây dựng; các các "luật chuyên ngành" đã quy định thêm khá nhiều điều kiện khi đăng ký kinh doanh, thậm chí có những điều kiện được quy định trong Thông tư hướng dẫn.

Ba là, Ban soạn thảo dự kiến sẽ bỏ quy định về việc ghi ngành nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký DN. Khi đó, ngành nghề kinh doanh sẽ do Đại hội đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên xác định và ghi trong Điều lệ DN. Nếu thực hiện được, điều đó sẽ là một cải tiến lớn. Song, nếu bỏ việc ghi ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký DN sẽ gây khó khăn lớn cho công tác quản lý thuế và việc kiểm soát sự tuân thủ về điều kiện kinh doanh. Bởi danh mục này là căn cứ để DN phát hành hoá đơn, xác định nghĩa vụ về thuế và xác định những điều kiện kinh doanh phải đáp ứng. Vì vậy, đề nghị cải tiến việc ghi danh mục ngành nghề trong Giấy chứng nhận đăng ký DN theo hướng không bắt buộc phải ghi chi tiết đến mã ngành cấp IV  như hiện nay. Hơn nữa, cũng cần có biện pháp để hạn chế việc đăng ký quá nhiều ngành nghề kinh doanh như một số DN hiện nay.

Bốn là, về hình thức Giấy Chứng nhận đăng ký DN. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/giấy chứng nhận đăng ký DN cấp theo hình thức tờ rời và khi có thay đổi đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận cũ bị thu lại. Điều đó dẫn đến tình trạng không thể biết sự thay đổi của DN về cổ đông/ thành viên góp vốn, vốn điều lệ kể từ khi DN được thành lập. Đề nghị thay đổi theo hướng cấp sổ đăng ký DN, có nhiều trang, mỗi trang tương ứng với một lần thay đổi đăng ký kinh doanh.

Luật gia Vũ Xuân Tiền
Uỷ viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tư vấn và
Phản biện chính sách - Hội các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam

 

15. Cấp thiết sửa đổi Luật Doanh nghiệp

Kỳ II: Quản lý con dấu như thế nào?

(DĐDN) - Một số quy định trong pháp luật DN hiện hành đối với việc chuyển đổi hình thức công ty vẫn còn nhiều bất cập ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động và hội nhập của chính DN và các nhà đầu tư cũng như đến quyền lợi của bên thứ ba.

 


Con dấu của DN là "tài sản của DN", do đó, nó phải do DN quyết định về hình thức, nội dung và công tác quản lý

(ảnh: con dấu của một Cty Nhật Bản không theo quy chuẩn con dấu Việt Nam)

 

Luật DN 2005 cũng bộc lộ nhiều bất cập, chưa theo kịp những chuyển biến và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước đối với DN, thiếu các quy định cụ thể, rõ ràng về nguyên tắc, vai trò, tiêu chuẩn của các cá nhân và tổ chức tham gia quản trị DN.

Quản lý con dấu thế nào?

Ban soạn thảo Luật DN (sửa đổi) đã đưa ra khá nhiều nội dung cần sửa đổi và bổ sung, trong đó, việc có đề xuất bỏ con dấu của DN. Đây là một trong những vấn đề đang có nhiều tranh cãi. Luật DN năm 2005 quy định: "1. DN có con dấu riêng. Con dấu của DN phải được lưu giữ và bảo quản tại trụ sở chính của DN. Hình thức và nội dung của con dấu, điều kiện làm con dấu và chế độ sử dụng con dấu thực hiện theo quy định của Chính phủ. 2. Con dấu là tài sản của DN. Người đại diện theo pháp luật của DN phải chịu trách nhiệm quản lý sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cần thiết, được sự đồng ý của cơ quan cấp dấu, DN có thể có con dấu thứ hai". Với quy định trên, từ hàng chục năm qua, phần lớn các DN đã quản lý, sử dụng con dấu đúng quy định của pháp luật, phục vụ cho quản lý, điều hành DN và sản xuất, kinh doanh.

Ý kiến đề nghị bỏ con dấu của DN xuất phát từ một số vụ việc tranh chấp căng thẳng trong nội bộ DN về việc quản lý và sử dụng con dấu, ví dụ vụ việc tại Cty cổ phần Đay Sài Gòn, Cty cổ phần Hữu Nghị Hà Nội, Đại học Hùng Vương và Cty Cung ứng tàu biển Hải Phòng... Do một cá nhân chiếm giữ con dấu, DN bị tê liệt. Song, nếu cho rằng, những vụ việc tranh chấp như vậy là do con dấu gây ra thì thật oan cho con dấu. Xét về bản chất, đó là những tranh chấp về quyền lực và thể hiện qua việc tranh chấp quyền quản lý, sử dụng con dấu. Nếu không có con dấu, tranh chấp về quyền lực đó vẫn xẩy ra với những biểu hiện khác. Trong những trường hợp trên, con dấu không có lỗi mà chỉ bị lợi dụng khi có sự tranh giành quyền lực trong nội bộ DN.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước" (Điều 1, Nghị định 58/2001/NĐ-CP). Như vậy, với một DN, khi một văn bản được đóng con dấu của DN (và tất nhiên phải có cả chữ ký của người có thẩm quyền) thì văn bản đó là của DN. Nếu một văn bản chỉ có chữ ký của người có thẩm quyền nhưng không được đóng con dấu của DN thì chưa đủ căn cứ để khẳng định đó là văn bản nhân danh DN. Sự phân biệt như vậy là rất cần thiết để đảm bảo sự minh bạch, bảo vệ quyền lợi cho những cổ đông, thành viên góp vốn và đối tác trong thương mại, đầu tư của DN. Chẳng hạn, ông A, Chủ tịch Hội đồng quản trị - Người đại diện theo pháp luật của Cty cổ phần X ký hợp đồng vay tiền của ông B, hợp đồng được đóng dấu Cty cổ phần X thì đó là Cty X vay và có nghĩa vụ trả nợ. Và tất nhiên để được đóng con dấu của Cty X vào hợp đồng vay, hợp đồng này đã phải trải qua một quy trình kiểm tra, rà soát của Hội đồng quản trị hoặc Ban Kiểm soát của Cty X. Khi hợp đồng đó chỉ có chữ ký của ông A mà không được đóng con dấu của Cty X thì đó chỉ là giao dịch của ông A, không có cơ sở pháp lý để yêu cầu Cty X trả nợ. Với các hợp đồng mua, bán, hợp tác đầu tư, các quyết định bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật người lao động....cũng tương tự như vậy. Rõ ràng, con dấu là công cụ quan trọng để phân biệt rõ, văn bản nào được ban hành, ký kết nhân danh DN và văn bản nào là của cá nhân. Nếu không còn con dấu, ranh giới giữa nhân danh DN và nhân danh cá nhân trong các giao dịch của người có thẩm quyền sẽ không còn. Khi đó, việc quản lý DN sẽ vô cùng rắc rối.

Tuy nhiên, điều bất hợp lý trong quy định về quản lý và sử dụng con dấu của DN là ở chỗ, quy định về quản lý con dấu của DN ở nước ta hiện nay được áp đặt hoàn toàn như việc quản lý con dấu của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, quân đội và công an (gọi chung là cơ quan Nhà nước). Con dấu của cơ quan Nhà nước thể hiện quyền lực của Nhà nước và phải được quản lý chặt chẽ. Song, con dấu của DN là "tài sản của DN", do đó, nó phải do DN quyết định về hình thức, nội dung và công tác quản lý. Ngược lại, quy định của pháp luật lại quy định rất chi tiết từ hình thức, kích thước, nội dung của con dấu, màu mực dấu. Tên quận, (huyện), tỉnh mà DN đóng trụ sở cũng phải được ghi trên con dấu. Chỉ cần DN chuyển trụ sở sang quận (huyện) khác (đó là điều xảy ra rất phổ biến với các DN nhỏ và vừa) là đã phải thay con dấu. Điều đó gây tốn kém rất lớn cho cả DN và công tác quản lý của nhà nước. Vô lý hơn nữa, khi DN không may bị mất con dấu - tài sản của chính mình - lại bị phạt vi phạm hành chính rất nặng!

Chưa thể bỏ con dấu của DN trong giai đoạn hiện nay khi kinh tế thị trường mới phát triển ở giai đoạn đầu, chữ tín trong kinh doanh chưa được tôn trọng. Song, Nhà nước cũng cần trao lại quyền có con dấu và quản lý con dấu cho chủ sở hữu DN. Điều đó có nghĩa là, chỉ cần quy định trong Luật DN như sau: "DN có con dấu riêng và phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh. Hình thức, kích thước, nội dung và nguyên tắc sử dụng con dấu do Điều lệ Cty quy định".

Có nên bỏ loại hình Cty hợp danh?

Ban soạn thảo Luật DN (sửa đổi) dự kiến sẽ bỏ loại hình Cty hợp danh vì loại hình Cty này có nhiều hạn chế.  Câu hỏi đặt ra là, nên bỏ hay vẫn giữ quy định về Cty hợp danh trong  Luật DN (sửa đổi) tới đây? Xin khẳng định ngay rằng, không nên bỏ loại hình Cty hợp danh trong Luật DN vì những lý do sau:

Thứ nhất, trên thực tế, dù không có nhiều Cty được thành lập theo hình thức Cty hợp danh nhưng vẫn có những Cty hợp danh trong lĩnh vực kiểm toán, khám chữa bệnh, tư vấn thiết kế...đang hoạt động có hiệu quả. Trong một số trường hợp, những người hành nghề độc lập lại rất cần hình thức hợp danh để hoàn toàn chủ động đối với hoạt động của mình. Chẳng hạn, ba bác sĩ, có thể thành lập một Cty hợp danh khám chữa bệnh và mỗi người mở một phòng khám riêng với danh nghĩa Cty.

Thứ hai, bất kỳ một loại hình DN nào cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Việc lựa chọn loại hình DN nào hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu hoạt động của những người góp vốn.

Luật DN hiện hành thiếu các quy định cụ thể, rõ ràng về nguyên tắc, vai trò, tiêu chuẩn của các cá nhân và tổ chức tham gia quản trị DN.

Thứ ba,  cho rằng vì có ít trong thực tế nên bỏ loại hình Cty hợp danh trong luật là không có sức thuyết phục. Ngược lại, hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các DN phải đầy đủ để chế định hành vi khi phát sinh trong thực tế và vì vậy, Luật DN cần quy định nhiều loại hình doanh nghiêp khác nhau.

Tuy nhiên, cần nghiên cứu để sửa đổi khung pháp lý cho loại hình Cty hợp danh. Điều 130 Luật DN năm 2005 quy định: 1. Cty hợp danh là DN, trong đó: a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của Cty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Cty; c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Cty trong phạm vi số vốn đã góp vào Cty. 2. Cty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh".

Quy định nêu trên đã tạo ra một DN "lưỡng cực". Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình, còn các thành viên góp vốn thì chịu trách nhiệm hữu hạn, trong phạm vi số vốn đã góp vào Cty. Hơn nữa, tiết c, khoản 2 Điều 140 Luật DN năm 2005 lại quy định một hạn chế quan trọng với thành viên góp vốn như sau: b) Không được tham gia quản lý Cty, không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh Cty.

Với quy định nêu trên, rất ít nếu không nói là không hề có thành viên góp vốn trong Cty hợp danh. Bởi, khi góp vốn vào Cty hợp danh, người góp vốn  sẽ chịu rủi ro cao hơn nhiều khi cho vay hoặc gửi tiền vào tiết kiệm. Hơn nữa, thành viên góp vốn không được quản lý Cty do đó họ sẽ chịu rủi ro rất lớn. Nếu các thành viên hợp danh hoạt động không có hiệu quả, người góp vốn chẳng những không thu được lãi mà có thể bị mất vốn góp mà không thể quy trách nhiệm cho ai.

Từ những phân tích trên, mặc dù không nên bỏ loại hình Cty hợp danh nhưng cần nghiên cứu, quy định lại, Cty hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và không có những thành viên góp vốn. Quy định như vậy cũng phù hợp với thông lệ quốc tế hiện nay.

Dự thảo Luật DN sửa đổi đang được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi để đến tháng 3/2014, dự thảo sẽ được trình Chính phủ thẩm tra, cho ý kiến. Chính vì vậy, là tiếng nói của cộng đồng DN, doanh nhân, DĐDN rất mong nhận được phản hồi của doanh nhân, bạn đọc.

Luật gia Vũ Xuân Tiền
Hội Các nhà quản trị DN Việt Nam
(Kỳ sau: Những vấn đề của Đại hội đồng cổ đông)

Xem 1492 lần Chỉnh sửa lần cuối vào 22:38 01/01/2014